* Mua hoặc thuê tên miền sannhuapvc.mautubep.net, vui lòng liên hệ 0908 744 256 - 0917 212 969 (Mr. Thanh)

* Nhựa: (84-28) 3855 2849



Nhựa ngày nay được để chế tạo các sản phẩm nhà cửa đời sống như bàn



Thuế nhập khẩu đối với hạt nhựa PP đã tăng từ 1 lên 3% kể từ 01/01/2017. Hiện nay, tỷ lệ nguyên liệu nhập khẩu mà ngành công nghiệp nhựa Việt Nam từ nước ngoài lên tới 80% tổng nhu cầu cho chất dẻo nguyên liệu.

Hạt nhựa PP là một trong hai nguyên liệu nhựa phải nhập khẩu nhiều nhất, việc tăng thuế nhập khẩu đối với hạt nhựa PP sẽ tác động không nhỏ tới chi phí đầu vào của các công ty sản xuất nhựa nói chung và đặc biệt là những công ty sản xuất nhựa bao bì có nguồn gốc PP.

Nhựa PET (Polyethylene terephthalate): được dùng trong sản xuất tơ sợi, vật đựng đồ uống các loại hộp đựng thức ăn, các loại chai nước suối, chai nước ngọt, chai nước ép và những dạng chai dùng một lần
Nhựa HDPE (Hight Density Poli Etilen): thường được dùng trong sản xuất làm các loại túi, bì nhựa, các loại ống nhựa, chai lọ, đặc tính nhựa HDPE có độ bên cao hơn các loại nhựa khác, chịu được nhiệt, không bị rỉ.

Không bị tác dụng bởi các dung dịch muối, axít và kiềm, kể cả nước mưa axít cũng không ảnh hưởng tới loại ống này. Trong một số ngành như thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm thường dùng các loại chai lọ chất liệu HDPE, ngoài ra hầu hết các loại nắp, nút chai cũng sử dụng nguyên liệu là loại nhựa này.

Nhựa PVC (poly Vinyl Clorua): phần lớn dùng bao bọc các loại dây cáp, ống nhựa thoát nước, áo mưa. Nhựa PVC có tính độc nên không được sử dụng để sản xuất bao bì thực phẩm.
Nhựa LDPE (Low-density polyethylene): được sử dụng để làm các loại bao bì, túi nhựa đựng hàng tạp hóa, giấy gói thực phẩm, các loại chai cần phải bóp_nặn. hộp đựng thực phẩm đông lạnh, túi mua sắm, túi tote, quần áo, đồ nội thất, thảm

Nhựa PP (polypropylene): Nhựa PP được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực gia dụng, Hộp sữa chua, chai đựng nước lọc, lọ đựng thuốc, chai đựng nước sirup, các loại màng chống thấm, các loại ly dùng một lần,…
Nhựa PS (Polystyrene): hay còn được gọi là xốp, thường được sử dụng trong khâu chèn lót, đóng gói bao bì, đồ cách nhiệt.

Bạn cũng thấy nhựa số 6 được sử dụng để làm các loại đĩa, tô đựng mì ăn liền, đựng đồ ăn như canh, súp, và ly dùng 1 lần, tuy nhiên loại nhựa này tiết ra tính độc khi tiếp xúc với nhiệt.

Một số loại nhựa khác: Đó là sự kết hợp, pha trộn của các loại nhựa. Loại nhựa này cực kỳ độc hại, sản sinh ra chất BPA và hầu hết các loại bao bì chứa đựng thưc phẩm không mang hiệu số 7, hầu hết loại nhựa này được ứng dụng trong sản xuất công nghiệp.

Hiện nay nhụa đã quá phổ biến trông cuộc sống. Ví dụ khi bạn coi tivi, dùng máy pc, đi xe oto hay máy bay thì bạn đều dùng nhựa. Hoặc khi bạn đi mua sắm đều dựa vào các túi nhựa PE để đựng sản phẩm. Vậy con người đã quá phụ thuộc vào nhựa chăng. Nhựa là gì và nhựa làm từ gì? Do đó bài viết này sẽ đi tìm hiểu tất tần tật về nhựa.



Nhựa thông thường có tỷ trọng tương đối thấp. Nên các sản phẩm từ nhựa có tính cạnh tranh hơn về trọng lượng.

Bạn có biết loại nhựa được sản sinh ra đầu tiên mà con người tìm thấy là từ tự nhiên không? Đó chính là nhựa cao su từ các cây cao su đó.

Lịch sử về Nhựa

Lịch sử của nhựa phát triển từ những đầu năm 1800. Mục đích ban đầu là để thay thế các loại nguyên liệu quý hiếm như ngà voi và mai rùa.

Và con người đã tạo ra nhựa tổng hợp từ cellulose ( được tìm thấy trong cây và thực vật ). Bằng cách gia nhiệt vào Cellulose với các hóa chất để tạo ra 1 loại nhựa tổng hợp cực kì bền.
Thuật ngữ về “nhựa“

Plastic là một “chuỗi” các hạt phân tử được liên kết lại với nhau. Mỗi “chuỗi” được gọi là các polymers. Chính vì thế đa số các loại nhựa đa phần đều bắt đầu với từ “poly”, như là poylethylene, polypropylene.

    Từ “plastic” được dựa vào tiếng Hy Lạp “plastikos” có nghĩa là nguyên liệu có thể đúc thành sản phẩm dễ dàng. Do đó khi nhắc đến nhựa thì chúng ta liên tưởng ngay đến độ dẻo và độ đa dạng của nó.

Hiện nay thậm chí các máy in 3d đều có nguyên liệu hoàn toàn bằng nhựa để vẽ ra các sản phầm hình dạng khác nhau. Ngoài ra nhựa được sản xuất thành nhiều dạng khác nhau từ màng mỏng đến các hình dáng tấn  miếng, chai hộp ống các loại…

Ngoài ra thuật ngữ nhựa chuyên nghành rất đa dạng để tìm hiểu thêm đọc bài viết về các từ ngữ chuyên nghành nhựa tại đây.

    Hầu hết các loại nhựa đều có một mức cản nhiệt và cách điện tốt. Nhưng vẫn có một số được thay đổi để dẫn điện khi cần thiết.
    Chúng có khả năng chống ăn mòn đối với nhiều chất tấn công các vật liệu khác, làm cho chúng bền và thích hợp để sử dụng trong môi trường khắc nghiệt
    Một số trong suốt, làm cho các thiết bị quang học trở nên khả thi.
    Chúng có thể dễ dàng được đúc thành các hình dạng phức tạp, cho phép các vật liệu khác được tích hợp vào các sản phẩm nhựa và làm cho chúng trở nên lý tưởng cho một loạt các chức năng.
    Hơn nữa, nếu các tính chất vật lý của một loại nhựa nhất định không hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu quy định, sự cân bằng các tính chất của nó có thể được sửa đổi bằng cách bổ sung chất độn gia cường, màu sắc, chất tạo bọt, chất chống cháy, chất làm dẻo, v.v., để đáp ứng nhu cầu của ứng dụng cụ thể.  

Phân loại nhựa

Có nhiều cách để phân loại nhựa và theo mỗi cách khác nhau, nhựa cũng được phân thành các loại khác nhau.

    Ngoài ra một số hãng phân phối nhựa còn phân biệt theo hiệu ứng của polyme đó và chia từng khung nóng chảy melting indicator (MI). Một số nơi thì lại phân loại theo ứng dụng như Polymer có thông dụng hay là nhựa kỹ thuật hoặc chuyên dụng khác.

    Đối với người bình thường thì có thể nhìn ký hiệu trên sản phẩm để phân loại đọc bài viết dưới để hiểu rõ hơn

Cách dễ nhất để xác định loại nhựa.

Và cách phân biệt nhựa dễ dàng nhất là dùng lửa. Nhựa cũng như vàng đều dùng lửa để thử.

Nếu bạn muốn xác định loại nhựa chỉ cần cắt một miếng mẫu và đốt nó. Sau đó quan sát màu sắc khi cháy, mùi và cách cháy có thể xác định được tương đối đó là loại nhựa nào..

Các sản phẩm từ nhựa PP có độ bóng bề mặt tốt, với khả năng chống thấm nước và thấm khí, không dễ bị oxy hóa hay ảnh hưởng bởi các loại khí khác.

Hơi nước hay dầu mỡ nên chúng thường được tận dụng làm các loại hộp, hũ, can, bình đựng, bao bì… được sử dụng phổ biến trong đời sống sinh hoạt thường ngày của con người.

Trong các loại nhựa thường gặp thì nhựa PP có tính bền nhiệt cao nhất, tức khả năng chịu nhiệt cao, với giới hạn nhiệt lên tới 130 - 170 độ C. Qua giới hạn nhiệt này, nhựa PP sẽ bị nóng chảy hoặc gây cháy khi bị đốt, khi đốt chúng có mùi như mủ cao su, với ngọn lửa tạo thành màu xanh, dòng chảy dẻo.

Để an toàn các nhà sản xuất khuyến khích không nên để các sản phẩm từ nhựa PP tiếp xúc với nhiệt độ cao và liên tục. Nhựa PP có thể sử dụng hâm nóng thức ăn trong lò vi sóng, nhưng bạn chỉ nên quay nó từ 2 - 3 phút trong lò để giữ an toàn.

Với độ bền cơ học và tính an toàn ứng dụng cao, nhựa PP được sử dụng rất phổ biến trong đời sống của con người với nhiều sản phẩm quen thuộc:

- Dùng làm bao bì 1 hoặc nhiều lớp để tăng tính chống thấm khí, hơi nước, tạo khả năng in ấn cao, tạo độ bóng cao và dễ xé rách để mở bao bì (do có tạo sẵn một vết đứt).

- Tạo thành sợi, dệt thành bao bì đựng lương thực, ngũ cốc có số lượng lớn.

- Và hàng loạt những sản phẩm làm nhựa PP như chai đựng nước, bình sữa cho bé, hộp bảo quản thực phẩm, đồ chơi cho bé… bởi chất liệu nhựa vô cùng an toàn.



Tiêu chuẩn kích thước thẻ nhựa như thế nào?

Kích thước thẻ nhựa cũng là một tiêu chuẩn được đặt ra cho những ai có nhu cầu sở hữu sản phẩm thẻ tên.

Khi đến các cửa hàng in ấn để in thẻ tên nhân viên. Người ta thường lưu ý nhiều nhất đến kích thước của sản phẩm này sao cho đặt in được kích thước chuẩn nhất.

Kích thước thẻ nhựa thường dùng có kích thước thẻ là 8,6cm x 5,4cm

Đây được coi là kích thước chuẩn nhất để các công ty và doanh nghiệp đặt ra để làm thẻ nhân viên cho công ty mình. Tuy nhiên bên cạnh kích thước thì người ta cũng chú ý đến kiểu dáng của thẻ tên. Chúng ta có thể sử dụng thẻ tên có kiểu dáng dọc hay thẻ tên có kiểu dáng đặt ngang. Nhưng dù kiểu dáng nào cũng không được vượt qua kích thước thẻ nhựa tiêu chuẩn ở trên.

Yêu cầu khi làm thẻ nhựa đạt tiêu chuẩn

Với thẻ nhựa, khi chúng ta tiến hành in ấn cũng cần phải chú ý tới những yêu cầu cơ bản như sau:

a. Yêu cầu về thiết kế

    Nếu là ảnh bitmap thì ảnh phải có chất lượng cao, kích thước phải chuẩn;
    Hệ màu của file thiết kế là CMYK
    Độ phân giải tối thiểu để in ra một sản phẩm chất lượng là 300dpi
    Nếu sử dụng photoshop để thiết kế thì kích thước thẻ nhựa phải đúng kích thước thẻ và độ phân giải phải là 300dpi, kích thước thẻ là 8,6cm x 5,4cm, phải thiết kế lọt lòng, không được thiết kế tràn lề vì khi cấn bề rất dễ bị mất thông tin trên thẻ và khi thiết kế không cần thiết kế bo góc vì khuôn bế đã có bo góc

b. Yêu cầu về xuất file khi in

    Các file có thể in thẻ mang kích thước thẻ nhựa là là “.cdr “, ” .ai “, “EPS”, “.TIF “, ” TIFF “, ” JPG “, ” JPEG “, ” JPE “, ” PSD “;
    Các file trên đều có thể in được nhưng các bạn hạn chế sử dụng các file : JPG, JPEG, JPE vì các file này là ở định dạng file nén chất lượng ảnh đã kém nên các bạn hạn chế sử dụng định dạng này;
    Lưu ý rằng: Trước khi chép file đi in các bạn phải convert tất cả font chữ trong file thiết kế của bạn, đề phòng trường hợp thiếu font chữ;
    Đặc biệt: Khi chép file đi in các bạn có thể chép file góc để đi in hoặc là chuyển sang dạng “.TIF” (định dạng TIF là định dạng chuẩn trong in ấn).

4. Địa chỉ in thẻ tên có kích thước thẻ nhựa đạt chuẩn

Để có thể sở hữu những tấm thẻ tên mang kích thước thẻ nhựa đạt chuẩn. Chúng tôi mời bạn ghé qua địa chỉ in ấn TPHCM nơi cung cấp những chiếc thẻ tên tốt nhất cho bạn.

In TPHCM tự tin

     Là một địa chỉ cung cấp thẻ nhân viên uy tín nhất miền bắc
    Chúng tôi có nhiều năm kinh nghiệm, gặp gỡ nhiều khách hàng nên đặc biệt nắm tõ tiêu chí mà họ đặt ra sản phẩm.
    Tư vấn nhiệt tình 24/7

 => Cho nên chúng tôi luôn đem tới những điều tốt nhất

Khi bạn có nhu cầu làm thẻ tên nhân viên tại công ty chúng tôi. Chúng tôi cam kết:

    Sản phẩm đúng thông tin
    Đúng kích cỡ
    Giao hàng đúng hẹn
    Chất lượng tốt

Đội ngũ tư vấn am hiểu các sản phẩm in thẻ nhựa giúp tư vấn chính xác chất liệu, quy cách thiết kế, khổ in thẻ nhựa để có được chi phí in tốt nhất mà vẫn đảm bảo chất lượng khi sử dụng,

► In ấn, gia công thẻ nhựa trực tiếp tại xưởng, không qua trung gian giúp loại bỏ được nhiều chi phí phát sinh không đáng có như in tại các dịch vụ không có máy in,

► Luôn in thẻ nhựa theo bảng giá ban hành, không kê giá nâng giá, qua đó không gây phát sinh chi phí "ngoài luồng" khi in thẻ nhựa tại In Kỹ Thuật Số.

Lưu ý quan trọng để in thẻ nhựa giá rẻ

In Kỹ Thuật Số - với kinh nghiệm in thẻ nhựa cho hàng chục nghìn khách hàng từ số lượng ít đến số lượng lớn - chia sẻ một vài kinh nghiệm hay giúp giảm được chi phí in ấn thẻ nhựa:

    Cân nhắc mức độ quan trọng (bảo mật, thời gian sử dụng, hình ảnh thương hiệu) để chọn chất liệu thẻ phù hợp. Thẻ PVC 3 lớp sẽ có chi phí rẻ hơn thẻ 4 lớp
    Cân nhắc gia công thẻ để giảm thời gian in và chi phí in
    Cân nhắc số lượng thẻ và kỹ thuật in. Nếu in số lượng ít nên in nhanh kỹ thuật số. Nếu in số lượng nhiều nên in offset


Nhựa


Thanh nep giay Thanh nẹp giấy được làm từ giấy cứng cấu tạo nhiều, Thanh nẹp giấy là công cụ được sử dụng phổ biến trong các ngành đóng gói sản phẩm, xuất khẩu hàng hóa. Thanh nẹp giấy đã kết hợp với nhiều



Bên cạnh đó, các Hiệp định tự do thương mại Việt Nam đã và đang ký kết như FTAs, và RCEP cũng là những yếu tố tích cực giúp cho sản phẩm nhựa Việt Nam tăng khả năng cạnh tranh khi xuất khẩu sang các thị trường khác.

 Đặc biệt, RCEP sẽ giúp các công ty Việt Nam mở rộng phạm vi khu vực nguồn nguyên liệu được đảm bảo yêu cầu quy tắc xuất xứ (nếu nguồn nguyên liệu sản xuất của các công ty Việt Nam được nhập từ 1 trong 16 nước như Australia, Newzealand, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, các nước khu vực Đông Nam Á… đều đáp ứng quy tắc xuất xứ) để được hưởng ưu đãi giảm thuế xuất khẩu còn từ 0%-5%.

Hiện nay, các sản phẩm nhựa Việt Nam được chia làm 4 nhóm chính, gồm nhựa bao bì, nhựa gia dụng, nhựa vật liệu xây dựng và nhựa kỹ thuật.

Nhựa bao bì: Đây là dòng sản phẩm có giá trị gia tăng thấp nhưng lại chiếm tới 39% giá trị sản xuất và tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam.

Ngành hàng tiêu dùng trong nước tăng trưởng tốt nhờ nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của dân cư gia tăng là yếu tố then chốt giúp ngành nhựa bao bì đảm bảo đầu ra vững chắc. Bao bì nhựa là một ngành giao nhau giữa hai ngành Nhựa và Bao bì. Ngành bao bì nhựa có thể được phân loại thành: Bao bì mềm, phục vụ chủ yếu cho ngành thực phẩm; Chai lọ nhựa đóng hộp phục vụ chủ yếu cho lĩnh vực nước giải khát; Bao bì cứng.

Theo báo cáo của Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), Bao bì nhựa chiếm 460 trên tổng số 2.000 công ty nhựa trên toàn quốc, 66% giá trị xuất khẩu nhựa hàng năm của Việt Nam là nhựa bao bì.

Nhựa bao bì cũng là mặt hàng nhựa xuất khẩu chủ yếu của ngành nhựa Việt Nam, các thị trường chính bao gồm Mỹ, Nhật Bản, EU, tuy có nhiều lợi thế về chi phí sản xuất thấp nhưng thị trường xuất khẩu túi, bao bì nhựa đang gặp một số khó khăn tuy nhiên chúng tôi đánh giá những trở ngại đó không quá ảnh hưởng tới các doanh nghiệp nhựa bao bì trong nước.

Cụ thể: EU đã thông qua quy định về hạn chế sử dụng túi nhựa và xu hướng chuyển sang dùng các loại túi, bao bì tự phân hủy. Tuy nhiên hàng nhựa bao bì Việt Nam xuất sang châu Âu thường phải đáp ứng những yêu cầu chất lượng cao, chủ yếu là bao bì cao cấp và bao bì tự hủy, nên quy định này sẽ không quá ảnh hưởng tới việc xuất khẩu của bao bì Việt Nam.

Bên cạnh đó, Mỹ vẫn tiếp tục kéo dài việc áp thuế chống trợ cấp và thuế chống bán phá giá đối với các sản phẩm túi, bao bì nhựa PE nhập khẩu từ Việt Nam (cùng với Việt Nam là các nước Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Đài Loan và Thái Lan cũng chịu các mức thuế phạt thêm 5 năm nữa).

Mỹ đã bắt đầu chương trình hạn chế này từ năm 2010 và tiếp tục gia hạn sau thời kỳ 5 năm lần đầu tiên kết thúc.
 Chúng tôi đánh giá việc Mỹ tiếp tục duy trì áp thuế như trên sẽ không tác động đột biến đối với xuất khẩu nhựa của Việt Nam do việc này đã diễn ra trong suốt 5 năm qua.

Nhựa vật liệu xây dựng: Chiếm 14% giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm như ống nước, khung cửa chính, cửa sổ. Nhờ thị trường bất động sản đang hồi phục và các hoạt động xây dựng dân dụng, hạ tầng gia tăng với nhiều dự án có quy mô lớn và vốn đầu tư cao, đặc biệt là các dự án về xây dựng nhà xưởng và cơ sở hạ tầng phục vụ công nghiệp, hạ tầng giao thông, nâng cấp đường bộ… nên thị trường tiêu thụ VLXD được kỳ vọng sẽ được mở rộng mạnh mẽ với tiềm năng cao.



Nhựa gia dụng: Chiếm khoảng 32% giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm gia dụng như nội thất, tủ, đĩa, đồ chơi, và giầy dép. Các công ty trong nước chủ yếu tập trung sản xuất nhóm sản phẩm này, nhưng thường có biên lợi nhuận thấp, trong khi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tập trung ở phân khúc sản phẩm cao cấp, có giá trị và biên lợi nhuận cao.

Trong những năm gần đây, các sản phẩm nhựa gia dụng Việt Nam chiếm tới 90% thị phần nội địa và tập trung ở phân khúc bình dân. Tuy nhiên các công ty trong nước đang đánh giá thấp nhu cầu tiêu dùng hàng cao cấp trong nước và không có kế hoạch phát triển dòng sản phẩm cao cấp, phân khúc nhựa gia dụng cao cấp vẫn đang bị bỏ ngỏ.

Kết quả là mảng nhựa gia dụng cao cấp bị các công ty nước ngoài chiếm lĩnh với những chiến lược bài bản như: hệ thống phân phối hiện đại (hệ thống các cửa hàng bán sản phẩm kết hợp với hợp tác cùng các siêu thị, trung tâm thương mại), đầu tư công nghệ để đa dạng hóa sản phẩm nhằm đánh vào tâm lý xem trọng an toàn sức khỏe và phủ kín nhu cầu của người tiêu dùng.

Nhựa công nghệ cao: Chiếm 9% giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm như phụ tùng nhựa, dùng trong lắp ráp ô-tô, xe máy, thiết bị y tế và trang thiết bị dùng trong công nghiệp composite.

Đến nay toàn ngành Nhựa Việt Nam gồm khoảng hơn 2.000 công ty trải dài từ Bắc vào Nam và tập trung chủ yếu ở Tp.HCM (tại Tp.HCM chiếm hơn 84%) thuộc mọi thành phần kinh tế với hơn 99,8% là công ty tư nhân. Các công ty trong nước chiếm 85%, công ty nước ngoài tuy chỉ chiếm 15% về số lượng nhưng chiếm đến 40% về vốn đầu tư.

Chính phủ dự báo sẽ thoái vốn khỏi nhiều công ty trong nước và dự kiến nhiều công ty nước ngoài sẽ tận dụng cơ hội này để mua lại một tỷ lệ lớn cổ phần chào bán, qua đó nâng tỷ lệ vốn góp trên thị trường lên khoảng 60%.

Dù có sự phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng ngành Nhựa Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ được biết đến như là một ngành kinh tế kỹ thuật về gia công chất dẻo, trong khi đó lại không chủ động được hoàn toàn nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất.

Hiện nay mỗi năm ngành Nhựa cần khoảng 4.5-5 triệu tấn các loại nguyên liệu đầu vào như PE, PP, PS, PVC… chưa kể hàng trăm loại hoá chất phụ trợ khác nhau, trong khi khả năng trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng gần 1 triệu tấn nguyên liệu và hóa chất, phụ gia cho nhu cầu của ngành Nhựa Việt Nam.

Ngành Nhựa hiện nay mới chỉ chủ động được khoảng 20% nguyên liệu cũng như hóa chất phụ gia đầu vào. Nếu không sớm chủ động được nguồn nguyên liệu thì đây sẽ là một trở ngại lớn cho các công ty ngành Nhựa để có thể thực hiện sản xuất cũng như tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường trong bối cảnh Việt Nam đã và đang tham gia ký kết hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương.

Tình hình xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam

Hiện tại, các sản phẩm của nhựa Việt Nam đã có mặt tại 151 thị trường trên thế giới, kể cả những thị trường đòi hỏi chất lượng cao, tiêu chuẩn kỹ thuật tối ưu như Nhật Bản, Mỹ, EU.

Xuất khẩu nhựa của Việt Nam chủ yếu đến từ nhóm những công ty FDI (chiếm 60% giá trị xuất khẩu toàn ngành), những công ty này sử dụng những công nghệ tiên tiến, đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng của các thị trường nước ngoài.

Nhật Bản, EU và Mỹ là những thị trường xuất khẩu chính của ngành Nhựa Việt Nam, trong đó Nhật Bản vẫn giữ vị trí đầu tiên với tỷ trọng trên 20% giá trị xuất khẩu qua các năm. Những sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của ngành nhựa Việt Nam chủ yếu vẫn là bao bì túi nhựa, hoặc phụ kiện, linh kiện có giá trị gia tăng thấp.

Mặc dù triển vọng xuất khẩu của ngành nhựa Việt Nam được hỗ trợ tích cực bởi các hiệp định tự do thương mại mà Việt Nam đã tham giá như FTAs, RCEP nhưng ngành nhựa Việt Nam vẫn đối mặt với những hạn chế tới từ thị trường xuất khẩu khác như xu hướng chuyển dịch sang sử dụng bao bì thân thiện với môi trường tại châu Âu ngày một lan rộng trong khi Mỹ vẫn áp thuế chống phá giá lên mặt hàng túi nhựa PE nhập từ Việt Nam.

Những hạn chế cản trở phát triển công nghiệp nhựa

Nguyên liệu đầu vào chính của ngành nhựa là các bột nhựa và hạt nhựa PE, PP, PVC, PS và PET, được sản xuất chủ yếu từ dầu-khí-than. Trong đó 75%-80% nguyên liệu và phụ liệu đầu vào phục vụ cho hoạt động sản xuất nhựa phải nhập khẩu do nguồn cung trong nước hiện nay chỉ có thể đáp ứng khoảng 1 triệu tấn nguyên phụ liệu (chủ yếu là nhựa PVC, PET và PP), đặc biệt thiếu nguồn cung nguyên liệu nhựa tái sinh, công nghiệp hỗ trợ ngành nhựa chưa phát triển.

Chi phí cho nguyên liệu chiếm tỉ trọng cao nhất trong cơ cấu chi phí của ngành nhựa. Tuy nhiên các công ty nhựa Việt Nam không thể chủ động nguồn cung cấp trong nước, phải nhập khẩu đến 80% nguyên liệu đầu vào. Tình trạng này dẫn đến việc các công ty nhựa phải duy trì tồn kho nguyên liệu lớn để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn.

Kéo theo đó là chi phí tài chính gia tăng, cộng thêm rủi ro về thay đổi tỷ giá và giá dầu thế giới. Hạn chế này là đặc điểm chung của cả ngành nhựa Việt Nam và khó có thể thay đổi trong vài năm tới.

Lượng lớn nguyên liệu đầu vào phải nhập khẩu sẽ khiến các công ty xuất khẩu sản phẩm nhựa khó tận dụng được ưu đãi thuế do những quy định liên quan đến xuất xứ hàng hóa. Bên cạnh đó, giá nhựa nguyên liệu nhập khẩu thường biến động tương ứng với thay đổi của giá dầu (nhất là thời gian vừa qua khi giá dầu tăng/giảm bất thường và khó dự báo).

Tạo nên những rủi ro về chi phí đầu vào và lỗ do chênh lệch tỷ giá USD/VND, làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các công ty nội địa. Ngoài ra, các chính sách hỗ trợ của Chính phủ chỉ mới tập trung vào một số sản phẩm nhựa, chưa có cơ chế và chính sách hỗ trợ riêng cho toàn ngành.

Các sản phẩm nhựa Việt Nam hầu hết nằm ở phân khúc tầm thấp nên các công ty quy mô nhỏ và vừa (chiếm hơn 90% trong tổng số 2.000 công ty nhựa) thường ít chú trọng đến việc đầu tư công nghệ, máy móc hiện đại. Bên cạnh đó, các công ty vừa và nhỏ thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay do những hạn chế về tài sản đảm bảo, chi phí lãi vay cao…

Chỉ có một số rất ít các công ty có quy mô sản xuất lớn chịu đầu tư chuyên sâu và có những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng. Điều này khiến sức cạnh tranh của sản phẩm nhựa Việt Nam trên thị trường không lớn, đặc biệt là những sản phẩm nhựa gia dụng.

Thuế nhập khẩu đối với hạt nhựa PP đã tăng từ 1 lên 3% kể từ 01/01/2017. Hiện nay, tỷ lệ nguyên liệu nhập khẩu mà ngành công nghiệp nhựa Việt Nam từ nước ngoài lên tới 80% tổng nhu cầu cho chất dẻo nguyên liệu.

Hạt nhựa PP là một trong hai nguyên liệu nhựa phải nhập khẩu nhiều nhất, việc tăng thuế nhập khẩu đối với hạt nhựa PP sẽ tác động không nhỏ tới chi phí đầu vào của các công ty sản xuất nhựa nói chung và đặc biệt là những công ty sản xuất nhựa bao bì có nguồn gốc PP.

Nhựa PET (Polyethylene terephthalate): được dùng trong sản xuất tơ sợi, vật đựng đồ uống các loại hộp đựng thức ăn, các loại chai nước suối, chai nước ngọt, chai nước ép và những dạng chai dùng một lần
Nhựa HDPE (Hight Density Poli Etilen): thường được dùng trong sản xuất làm các loại túi, bì nhựa, các loại ống nhựa, chai lọ, đặc tính nhựa HDPE có độ bên cao hơn các loại nhựa khác, chịu được nhiệt, không bị rỉ.

Không bị tác dụng bởi các dung dịch muối, axít và kiềm, kể cả nước mưa axít cũng không ảnh hưởng tới loại ống này.