Hạt nhựa PP là một trong hai nguyên liệu nhựa phải nhập khẩu nhiều nhất, Nhựa, việc tăng thuế nhập khẩu đối với hạt nhựa PP sẽ tác động

* Mua hoặc thuê tên miền sannhuapvc.mautubep.net, vui lòng liên hệ 0908 744 256 - 0917 212 969 (Mr. Thanh)


Theo tiêu chuẩn châu Âu NF EN 13342, vật liệu được gọi là phân hủy sinh học khi nó có khả


Nhựa sinh học có nhiều loại khác nhau nhưng cho đến nay chưa thể tổng hợp. Mỗi nhà sản xuất nhựa cho ra những sản phẩm với thành phần khác nhau và được ứng dụng vào những mục đích sản xuất khác nhau. Tại Việt Nam có 2 sản phẩm nhựa sinh học nổi bật nhất đó là

Hạt nhựa để làm gì? Hạt nhựa sinh học BIO40E và hạt nhựa sinh học BIO40P là 2 sản phẩm hạt nhựa sinh học đầu vào để sản xuất dụng cụ đựng đồ ăn liền như khay, muỗng, dĩa, ống hút, bao bì, chai đựng nước

So sánh nhựa nguyên sinh, nhựa tái sinh và nhựa sinh học

Về giá cả: Nhựa nguyên sinh và nhựa sinh học có giá cao hơn bởi vì đây là loại nhựa nguyên chất, chưa qua sử dụng.

Nhựa nguyên sinh và nhựa sinh học là phân khúc cao cấp của nguyên liệu sản xuất nhựa. Đương nhiên 2 loại nhựa này cũng có những đặc điểm nổi trội hơn trong quá trình sản xuất và tạo nên những sản phẩm chất lượng tốt, bền, đẹp hơn hẳn.

Nhựa nguyên sinh được ứng dụng nhiều và những lĩnh vực đòi hỏi độ bền, chất lương cao cấp như phụ kiện vỏ máy bay, ô tô, xe máy, lĩnh vực xây dựng,……

Công nghệ, quy trình sản xuất: Về cơ bản công nghệ sản xuất của các loại nhựa này khá giống nhau. Tùy vào sản phẩm mà quy trình sản xuất, máy móc được sử dụng thích hợp.

Về độ an toàn: Nhựa sinh học chiếm ưu thế hơn cả vì không chứa bất cứ kim loại nặng nào nên an toàn tuyệt đối cho sức khỏe người dùng. Nhựa nguyên sinh ít độc hại hơn so với nhựa tái sinh.

Tác động đối với môi trường: ở phương diện này, nhựa sinh học chiếm ưu thế tuyệt đối và đây cũng chính là lý do mà sản phẩm nhựa sinh học có mặt trên thị trường.

Như vậy, nhựa sinh học chính là sản phẩm được khuyên dùng nhất.

Vì sao? Vấn đề môi trường rất đáng báo động, rác thải nhựa thải ra môi trường ngày càng nhiều gây nên những hậu quả nghiêm trọng hơn trong tương lai.

Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên dầu mỏ cũng đang dần cạn kiệt nên chúng ta cần có những biện pháp tích cực giúp giảm thiểu tình trạng rác thải nhựa quá tải.

Bên cạnh việc hạn chế sử dụng đồ nhựa, thu gom nhựa tái chế thì một phương án cực kì quan trọng là lựa chọn nguyên liệu đầu vào dễ phân hủy, an toàn cho môi trường.

Vì vậy, nhựa sinh học chính là sự lựa chọn được khuyến khích.

Nhựa sinh học là sản phẩm cao cấp nhất để mang đến những sản phẩm bền, đẹp, chất lượng, an toàn cho sức khỏe và đặc biệt là làm giảm thiểu đáng kể tình trạng ô nhiễm môi trường. Với nhựa sinh học hoàn toàn có thể tái sử dụng, giá thành khá mềm nên hoàn toàn có thể cạnh trang với các loại nhựa khác.




Cũng như tất cả các chất hữu cơ khác, PVC bị phân hủy bởi ngọn lửa, nhưng do có mặt của Clo trong phân tẻ PVC có bản chất là chống cháy nên nó khó bốc cháy.

Quá trình lan truyền của ngọn lửa được chia làm 3 giai đoạn:

Bốc cháy:

Dưới ảnh hưởng của nhiệt, một chất có thể cháy bắt đầu nhiệt phân, đo là một phản ứng thu nhiệt mà trong quá trình đó nhiệt lượng sinh ra làm phá hủy các liên kết nguyên tử chắc chắn, nó làm thoát ra các khí dễ cháy mà chúng có thể bốc cháy khi có oxy trong không khí và có thể tạo ngọn lửa bên ngoài hoặc thậm chí tự phát tại những nhiệt độ cao hơn.

Sự lan truyền của ngọn lửa:

Các khí khi cháy sinh ra nhiệt lượng, do đó làm tăng nhanh quá trình nhiệt phân và kết quả là làm thoát ra các khí dễ cháy, sau đó ngọn nửa lan ngày càng nhanh và lan sang các nguyên liệu khác ở vùng lân cận.

Cháy lớn toàn bộ:

Nhiệt từ ngọn lửa làm phân hủy tất cả các nguyên liệu dễ cháy và thoát ra các khí có thể cháy, điều đó tất nhiên làm tăng nhanh sự cháy sáng dẫn đến sự cháy sáng toàn bộ.

Tại giai đoạn này thì không thể dập tắt được ngọn lửa, hành động chỉ có thể nỗ lực được là kiềm chế các ngọn lửa làm cho nó không lan rộng sang các phần khác của nhà xưởng.

Phòng cháy và chữa cháy chỉ có hiệu quả trong 2 giai đoạn đầu của ngọn nửa, PVC có thể được coi là có tính chất thuận lợi trong việc ngăn chặn sự lan nhanh của ngọn lửa.

– PVC là nguyên liệu không dễ cháy, nhiệt độ bốc cháy của nó cao hơn nhiệt độ bốc cháy của gỗ.

– Do nó có hàm lượng cacbon khá thấp nên khi PVC cháy ít nhiệt sinh ra, vì vậy hạn chế sự lan rộng của ngọn lửa, giá trị tỏa nhiệt của PVC là 200MJ/Kg; khoảng một nửa giá trị tỏa nhiệt của hầu hết các nguyên liệu nhiệt dẻo khác.

– Kèm theo sự phân hủy của PVC là sự sinh ra khí HCl và hình thành các chuỗi liên kết ngang làm thành một lớp cacbon bảo vệ.

Lớp cacsbon này giữ vai trò vừa là lớp cách nhiệt làm hạn chế sự gia nhiệt của nguyên liệu, vừa là lớp cản trở làm giảm sự thoát ra khí dễ cháy và sự thâm nhập của oxy.

– Cuối cùng từ toàn bộ các phản ứng cơ bản, HCl hoạt động như một chất chống cháy làm trung hòa các gốc H và OH tự do được giải thoát ra mà nhiệt lượng từ đó đóng vai trò chính trong sự lan truyền của sự cháy.

Xem xét các đặc tính của PVC thì PVC cứng thuộc loại đầu bảng trên phương diện chống cháy căn cứ theo một loạt các thí nghiệm quốc tế: B1 ở Đức, M1 ở Pháp, O hoặc 1 ở Anh.

Phản ứng của PVC có hóa dẻo đối với ngọn lửa thì ít thuận lợi hơn vì các chất hóa dẻo là những chất dễ cháy hơn, tuy nhiên khi thêm vào các chất chống cháy thích hợp thì nó có thể đạt dược sự phân loại nói trên.

Các chất khí thoát ra khi PVC cháy:

Khi PVC cháy cũng như các chất hữu cơ khác (gỗ, giấy, vải …) thì sinh ra khí CO2 và CO, vì hàm lượng cacbon của PVC khá thấp nên lượng khí cacbon sinh ra ít hơn so với các nguyên liệu hữu cơ khác.

CO được sinh ra khi mà tất cả các chất hữu cơ chưa cháy hoàn toàn nó xuất hiện với những nồng độ cao trong khi cháy thậm chí ngay cả khi không có sự có mặt của PVC.

Khi HCl thoát ra khi PVC cháy là một chất kích thích và độc (gây phù nề phổi).

Sự độc hại của các khí cháy là chủ yếu do khí CO, khí này khí có nồng độ cao và nó rất độc, lại không thấy được, không mùi, nạn nhân bị ngạt mà không biết để tránh đi.

Trái lại, có thể biết sự xuất hiện của khí HCl qua mùi của nó tại nồng độ rất thấp (5ppm) và rất nhanh chóng gây kích thích họng và các màng nhầy tới mức độ nhanh chóng làm cho người ta không thể chịu nổi (50 – 100ppm) nhưng lại không để lại hậu quả vĩnh viễn nào, chỉ khi ở mức độ cao gấp 10 – 20 lần mức nói trên thì gây phù nề phổi.

Do đó có thể coi rằng trong trường hợp cháy, khí HCl sinh ra sẽ làm một tín hiệu báo động buộc con người phải rời khỏi khu vực lân cận trước khi bị nhiễm độc hoặc bị ngạt.

Theo các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, đã có nhiều bình luận liên quan đến sự thoát ra của dioxin khí PVC cháy, nhiều kết luận ngược lại rút ra thì lại không được thực tế chứng minh qua các số liệu thu nhập được từ các vụ cháy thực tế.

Các nghiên cứu bề sâu được thực hiện ở các phòng thí nghiệm ở trường tổng hợp căn cứ theo một vụ cháy tại một nhà kho ở Thụy Điển chứa 400 – 500 tấn PVC cho thấy rằng số lượng dioxin thoát ra lại nhỏ hơn một phần nghìn số lượng dioxin sinh ra hàng năm từ một lò thiêu cháy thành phố cỡ trung bình.




Một lý do khiến bao bì nhựa cực kỳ phổ biến là vì nó rất đa dụng với chi phí cực thấp: ví dụ, người ta cần rất ít chất liệu để sản xuất ra chai nhựa đựng thức uống thay vì chai thủy tinh.

"Nhựa rất rẻ, nhẹ và có thể linh hoạt sử dụng trong rất nhiều cách mà các nguyên liệu khác không thể," Susan Selke từ Đại học Michigan nói.

Hồi 50 năm trước, trước khi cuộc cách mạng về nhựa bùng nổ, hầu hết thức uống được bán với bao bì là chai thủy tinh. Ngày nay, hầu hết thức uống đóng chai đều làm từ loại nhựa cứng có tên gọi polyethylene terephthalate, hay còn gọi là PET.

Thị trường nhập khẩu polyolefin ở Thổ Nhĩ Kỳ đã ghi nhận mức tăng mới vào đầu tháng 9.

Nguyên nhân chính kích hoạt đợt tăng giá là do các vấn đề logistic đã gây ra sự gia tăng cước phí vận tải và trì hoãn thời gian giao hàng kéo dài, đặc biệt là từ Trung Đông.

Sự chậm trễ vận chuyển từ Trung Đông đóng vai trò trung tâm

Cả hai thị trường PP và PE đều đang phải đối mặt với tình trạng chậm trễ vận chuyển từ Ả Rập Xê Út, nước cung cấp polyolefin lớn nhất của Thổ Nhĩ Kỳ, trong vài tháng qua.

Sự hỗn loạn về logistic trên toàn cầu đã khiến cước phí vận tải tăng cao ngất ngưởng do thiếu hụt container nghiêm trọng và các đơn đặt hàng Giáng sinh từ khắp nơi trên thế giới tới Trung Quốc sớm hơn mọi năm.

Những những người tham gia thị trường cho biết cước phí vận tải từ Trung Đông đến Thổ Nhĩ Kỳ đã tăng, chưa kể phí vận chuyển từ châu Á tăng cao đã ngăn cách Thổ Nhĩ Kỳ với các nhà cung cấp thường xuyên của Ấn Độ, Hàn Quốc và Trung Quốc vào cuối quý 3.

Việc thiếu hụt nguyên liệu từ Nga, một trong những nước xuất khẩu PP hàng đầu vào nước này, cũng như sự trì hoãn từ Iran và vụ đóng cửa của Ai Cập đều tác động tới tình hình.

Thời gian hoàn thành kéo dài nhiều tháng được cho là đã diễn ra trong một số trường hợp, điều này cũng khiến những người tham gia thị trường Thổ Nhĩ Kỳ phải cảnh giác với hàng hóa ở xa. Điều này cũng thúc đẩy nhu cầu mua hàng sôi động đối với các nguyên liệu PP và PE giao nhanh.

Các loại hạt nhựa gốc Polymer ( loại nhựa Poly ):
Hạt nhựa PP ( Polypropylene ) tái sinh & nguyên sinh:

Đặc tính hạt nhựa nguyên sinh PP dẻo, mềm. Dùng làm ghế nhựa quán cóc, các loại xô, thùng v.v.. Nhẹ hơn nước có thể tái sinh thành hạt nhựa tái sinh PP.
Hạt nhựa PET ( Poly Ethylene Terephthalate ) tái sinh & nguyên sinh:

Thuộc tính nhựa nguyên sinh & tái sinh PET cứng và dai. Phần lớn được dùng để thổi chai nhựa đựng nước giải khát. PET chịu nhiệt khá kém, chảy mềm ở 80″C và không chịu được một số dung môi cơ bản như xăng, xylene v.v… Có thể sản xuất ở trạng thái sạch và có chứng nhận cấp thực phẩm FDA (Food and Drug Administration) có thể tái chế và không độc hại có thể tái sinh thành hạt nhựa tái sinh PET.
Hạt nhựa

Hạt nhựa nguyên sinh PE dẻo, mềm. chức năng khá giống với nhựa PP nhưng chia ra làm 3 loại với ứng dụng rộng hơn ( nhựa HDPE, nhựa LDPE, nhựa LLDPE) có thể tái sinh thành hạt nhựa tái sinh PE.
Hạt nhựa PA ( Poly Amid, còn gọi là Nylon ) tái sinh & nguyên sinh:

Hạt nhựa PA nguyên sinh đặc tính cứng, dai, chịu nhiệt cao (180 độ C), dùng làm các chi tiết chịu nhiệt, chịu lực trong ô tô, máy móc. Có loại dùng để kéo thành sợi lông bàn chải đánh răng… Nhựa PA nặng hơn nước, có thể tái sinh thành hạt nhựa tái sinh PA.
Hạt nhựa tái sinh & nguyên sinh PS ( Polystyrene ):

Nhựa PS đặc tính cứng, giòn chia làm 2 loại khác nhau: HIPS (Hight-impact PS) chịu lực tốt, dùng làm vỏ tivi và các loại thiết bị chịu lực; GPPS (Genegal Purpose PS) trong suốt, dùng làm các lại hàng gia dụng trong suốt, giòn… Nặng hơn nước có thể tái sinh thành hạt nhựa tái sinh PS.
Hạt nhựa POM ( Poly Oxymethylene – còn gọi là Acetal ) tái sinh & nguyên sinh:



Loại bỏ các vết đen, chính là bụi bẩn và vỏ cây.

Cuối cùng, bạn cần nấu chín nhựa hoa đào trong vòng từ 50 phút. Lưu ý là loại lâu năm (màu hổ phách đậm) mất nhiều thời gian hơn để nấu. Loại nhựa hoa đào mới (màu trắng hoặc vàng) sẽ nấu chín nhanh hơn, có thể tan mất trong nước nếu nấu quá lâu.
Tôi có thể ăn nhựa hoa đào mỗi ngày không?

Hãy nghĩ đến nhựa hoa đào như một dạng thực phẩm chức năng vậy. Bản thân nó không phải là thuốc, nên bạn có thể dùng mà không cần chỉ định từ thầy thuốc.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bạn nên dùng nhựa hoa đào mỗi ngày.

Do nhựa hoa đào là một loại chất keo, nó có thể khó được hấp thụ trong bao tử nếu ăn quá nhiều. Ăn ở hàm lượng lớn (hơn 50g) mỗi ngày, nó có thể gây tức bụng, dẫn đến nhiều hệ lụy cho đường tiêu hóa.

Ngoài ra, phụ nữ mang thai không nên ăn nhựa hoa đào, theo thông cáo chính thức từ phòng thông tin của chính quyền Thượng Hải.

PET khá bền về mặt hóa học ở nhiệt độ thường. Tuy nhiên, ở nhiệt độ cao, PET không bền và có thể sinh ra một số aldehyde và thôi nhiễm antimony. Trong các dạng của antimony, chỉ có ATO được WHO xếp vào nhóm 2B (nhóm các chất có thể gây ung thư ở người), còn lại vẫn đang ở nhóm 3 (nhóm các chất không có vẻ gây ung thư ở người).

Bên cạnh antimony, các hợp chất bromate hóa cũng được tìm thấy là thôi nhiễm vào nước được báo cáo trong một nghiên cứu năm 2012, nhưng nghiên cứu này không chỉ ra rằng hàm lượng này có ở mức nguy hiểm hay không.

Hàm lượng các chất thôi nhiễm này tăng theo thời gian sử dụng và nhiệt độ bảo quản. Theo các nghiên cứu khuyến cáo, chỉ nên tái sử dụng vỏ chai PET ở nhiệt độ dưới 40 độ C trong khoảng dưới 10 ngày, sau đó thì nên thay mới.

Tóm lại: Vỏ chai PET (số hiệu là 1) không phải loại nhựa tốt nhất để tái sử dụng làm vật chứa nước uống hoặc thực phẩm. Nên chỉ sử dụng trong 1 thời gian ngắn rồi nên thay chai mới. Không sử dụng nhựa PET để đựng các thực phẩm nóng, hay cho vào lò vi sóng.

Cả ba loại nhựa đều có độ bền cơ học cao, hầu như trơ hoàn toàn về mặt hóa học.

Trong đó HDPE có tính bền vật lý cao nhất, có thể chịu được 120 độ C trong thời gian ngắn, hoặc 110 độ C trong thời gian dài), LDPE có thể chịu được 95 độ C trong thời gian ngắn, hoặc 80 độ C trong thời gian dài, còn PP có nhiệt độ nóng chảy khoảng 130 độ C nhưng là loại kém bền nhất.

Đến nay, hầu như chưa có báo cáo khoa học nào cho thấy có vấn đề về sức khỏe khi dùng các sản phẩm từ nhựa PE làm vật chứa thực phẩm.

Cả ba loại nhựa đều dùng an toàn, theo kiến thức của thế giới cho đến nay, cho các mục đích hằng ngày. HDPE là một trong những loại nhựa tốt nhất để chứa thực phẩm, nhất là các thực phẩm cho trẻ nhỏ như bình sữa, chai nước, bình bột. LDPE thường được dùng để chế tạo các chai lọ đựng hóa chất, găng tay nylon, túi nylon…

Còn các sản phẩm nhựa PP thường được tìm thấy là các hộp chuyên đựng thực phẩm, bàn ghế nhựa, một số loại bao nylon, ly nhựa, dao nhựa, muỗng (thìa) nhựa…

Tuy nhiên, nên tránh bỏ các sản phẩm nhựa vào lò vi sóng, tránh chứa thực phẩm quá nóng hoặc/và nhiều chất béo như cháo, nước dùng (nước lèo) của các loại bún, mì, phở, trừ khi chúng là sản phẩm đã được thiết kế chuyên dụng cho việc đựng thực phẩm nóng

3. Polyvinyl Chloride (PVC)

Polyvinyl Chloride (PVC) là loại nhựa tổng hợp được sử dụng rộng rãi thứ 3, sau polyethylene và polypropylene.

Nhựa đa năng này có thể ở dạng cứng hay dẻo, tùy phụ gia thêm vào. Nó thường được sử dụng trong việc sản xuất các vỉ thuốc, tấm trải giường, chai lọ không đựng thực phẩm.

Các loại thẻ (thẻ ngân hàng, thẻ xe có chip), và sản phẩm đặc biệt đáng quan tâm là đồ chơi trẻ em và wrap, hay còn gọi là bao kiếng, giấy kiếng…hay dùng để bọc thực phẩm.

PVC là loại nhựa được cho là không nên nhất để đựng thực phẩm bởi các phụ gia phtalates và bisphenol A được sử dụng trong sản xuất PVC có tác động lên hệ sinh dục, gan, thận được cảnh báo bởi WHO, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA), Cơ quan về các chất độc hại và đăng ký bệnh (ATSDR, cũng trực thuộc chính phủ Mỹ).

Nhưng do các hợp chất này hầu như chỉ đi vào cơ thể được thông qua đường ăn uống và hít thở, trong đó đường ăn uống là chính.


Cẩn thận khi bọc thực phẩm bằng giấy kiếng, không nên để chúng chạm vào đồ ăn khi hâm nóng.

4. Polystyrene

Polystyrene (PS) là loại nhựa rất phổ biến, và có cũng có thể ở dạng cứng (hộp đĩa CD, dao cạo râu) hoặc dạng xốp. Dạng xốp của nó còn được gọi là Styrofoam.

PS là loại nhựa được dùng nhiều trong công nghiệp đóng gói và đựng thực phẩm như là chén, đĩa, dao thìa (muỗng) nhựa, hộp xốp (hộp cơm, hộp xôi), khay đựng thịt, hộp cứng đựng thức ăn (hộp sữa chua)…

PS từ lâu đã bị nghi ngờ là không tốt khi sử dụng cho đóng gói thực phẩm do tính kém bền vật lý và hóa học của nó. Năm 2002, WHO đã nâng mức cảnh báo của styrene, một trong những thành phần dễ bị thôi nhiễm ra nhất từ PS, lên nhóm 2B (nhóm có thể gây ung thư cho người).

Tuy vậy, số lượng các nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn hạn chế, và chưa thật sự nêu bật được mối nguy hại của PS. Cần chủ động hạn chế tối đa việc dùng hộp xốp, ly, chén bát, muỗng (thìa) bằng nhựa PS để đựng thực phẩm, nhất là thực phẩm nóng.

5. Nhựa khác

Trong các loại nhựa khác với 6 loại trên, nhựa Polycarbonate là đáng quan tâm nhất.

Đây là loại nhựa thường được dùng để làm thùng đựng nước (nhất là loại thùng 20 lít), vỏ vali, ốp lưng điện thoại, vỏ hộp CD, tôn nhựa… Nhiều nghiên cứu cho thấy, bisphenol A, một thành phần của loại nhựa này, là loại giả nội tiết tố thôi nhiễm ra nhiều nhất trong nước đựng trong nhựa polycarbonate.

Tuy nhiên tất cả các loại nội tiết tố thôi nhiễm này, bao gồm luôn bisphenol A, đều nằm dưới mức an toàn cho đường uống theo tiêu chuẩn Mỹ.

Từ những thông tin trên, ta có thể tạm kết luận thứ tự ưu tiên chọn nhựa an toàn cho đựng thực phẩm là: HDPE, PP, LDPE, PET. Còn lại các loại nhựa PS, PVC, nhựa khác không được ưu tiên khi dùng là dụng cụ đựng thực phẩm nóng. Với thực phẩm nguội và nước uống, chưa thấy có sự khác biệt lớn giữa các loại nhựa này.

Thuật ngữ về nhựa (Nhựa là gì ?).

Nhựa (chất dẻo) hay tiếng anh gọi là plastic, nhựa plastic là các hợp chất cao phân tử.

Chúng được dùng làm nguyên liệu để sản xuất ra nhiều loại vật liệu nhựa khác nhau để phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày như: Bàn, ghế, chai lọ, áo mưa, túi nilon, cốc, đĩa, bát, ống dẫn diện, nhựa tổng hợp,… Và những sản phẩm công nghiệp hiện đại ứng dụng trong sản xuất, xuất nhập khẩu.

Thuật ngữ ''plastic'' có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp ''plastikos'', có nghĩa là phù hợp để đúc. Điều này đề cập đến tính linh hoạt của vật liệu hoặc độ dẻo trong quá trình sản xuất. Nhựa cho phép đúc, ép hoặc nén thành nhiều hình dạng khác nhau. Từ dạng màng mỏng cho đến dạng sợi, tấm, ống, chai, hộp… và nhiều hơn nữa.

2. Cấu tạo của nhựa.

Hầu hết các loại nhựa đều có chứa các polyme hữu cơ. Các thành phần của nhựa giống như gỗ, giấy hoặc len, các nguyên liệu thô…

Để sản xuất nhựa là các sản phẩm tự nhiên như: Cellulose, than đá, khí tự nhiên, muối và dĩ nhiên là dầu thô.

Nhựa đã và đang trở thành loại nguyên vật liệu hiện đại. Được sử dụng rộng rãi để thay thế các nguồn nguyên vật liệu từ vải, gỗ, da, kim loại, thủy tinh… Bởi đặc tính của nhựa là có độ bền cao, nhẹm khó vỡ và nhiều màu sắc đẹp.

Hơn 50% các chất dẻo chất hữu cơ, hợp chất vô cơ khác (chất phụ gia từ 0% đối với các polymer)… Đều được ứng dụng trong ngành điện tử. Ngày nay người ta thường trộn thêm các chất phụ gia khi sản xuất. Nhằm làm cải tiến hiệu suất (làm tăng độ dai, độ cứng, độ mềm, độ dẻo).

Hoặc làm giảm chi phí sản xuất (độn các vật liệu rẻ tiền để làm cho sản phẩm rẻ hơn trên một đơn vị trọng lượng) ra.

Người ta còn độn thêm các chất chống cháy để làm giảm tính cháy của vật liệu. Các chất độn thường là các loại khoáng như đá phấn. Trong đó phẩm màu là các chất phụ gia phổ biến nhất. Mặc dù trọng lượng của chúng chiếm tỉ lệ nhỏ (phẩm màu có dạng gạt,dạng phấn,dạng lỏng.)

3. Phân loại nhựa.

Sau khi quá trình này kết thúc, các hợp chất khác nhau được tạo ra sẽ được tạo thành một chuỗi.

Chuỗi này được biết đến như một polyme. Tạo ra các chuỗi và polyme khác nhau cho phép các công ty nhựa tạo ra các loại nhựa có các đặc tính khác nhau. Sự khác biệt khiến chúng được sử dụng trong các ứng dụng khác nhau.

Đối với ngành công nghiệp thực phẩm, một loại polyme đặc biệt có thể đóng gói các sản phẩm nóng.

Đối với các công ty sản xuất chai lọ, chai nước ngọt và hộp đựng chất thải, họ sẽ cần polyethylene terephthalate.

Cần có polyethylene mật độ cao hơn cho các loại nhựa dày hơn được sử dụng cho chai thuốc, hộp đựng phim và bình sữa. Khi gói thực phẩm như thức ăn thừa, bạn thường sẽ lấy một bọc nhựa mỏng trong suốt, được làm từ polyvinyl clorua.

a. Phân loại theo hiệu ứng của polyme với nhiệt độ:

Nhựa nhiệt dẻo: Là loại nhựa mà khi nung nóng đến nhiệt độ chảy mềm thì nó chảy mềm ra. Và khi hạ nhiệt độ thì nó đóng rắn lại. Loại này thường được tổng hợp bằng phương pháp trùng hợp. Các mạch đại phân tử của nhựa nhiệt dẻo liên kết bằng các liên kết yếu (liên kết hydro, vanderwall). Tính chất cơ học không cao khi so sánh với nhựa nhiệt rắn. Nhựa nhiệt dẻo có khả năng tái sinh được nhiều lần, ví dụ như: Polyetylen (PE), polypropylen (PP), polystyren (PS), poly metyl metacrylat (PMMA), poly butadien (PB), poly etylen tere phtalat (PET),...
Nhựa nhiệt rắn: Là một hợp chất cao phân tử có khả năng chuyển sang trạng thái không gian 3 chiều dưới tác dụng của nhiệt độ; Hoặc tác động của phản ứng hóa học. Sau đó không nóng chảy hay hòa tan trở lại được nữa, không có khả năng tái sinh. Một số loại nhựa nhiệt rắn như: Ure focmadehyt [UF], nhựa epoxy, phenol formaldehyde (PF), nhựa melamin, poly este không no...
Vật liệu đàn hồi (elastome): Là loại nhựa có tính đàn hồi như cao su.

b. Phân loại theo ứng dụng:

Nhựa thông dụng: Là loại nhựa được sử dụng số lượng lớn, giá rẻ. Được dùng nhiều trong Quy trình sản xuất nhựa như: PP, PE(HDPE), PS, PVC, PET, ABS,...
Nhựa kỹ thuật: Là loại nhựa có chất cơ lý trội hơn so với các loại nhựa thông dụng. Thường dùng trong các mặt hàng công nghiệp, như: PC, PA,.....
Nhựa chuyên dụng: Là các loại nhựa tổng hợp chỉ sử dụng riêng biệt cho từng trường hợp.

4. ỨNG DỤNG của nhựa.

Nhựa là vật liệu cực kỳ linh hoạt và lý tưởng cho một loạt các ứng dụng trong đời sống và công nghiệp. Nhựa được sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực, bao gồm sản xuất bao bì, xây dựng và xây dựng, dệt may, sản phẩm tiêu dùng, giao thông vận tải, điện và điện tử và máy móc công nghiệp.

Hàng không vũ trụ

Việc vận chuyển người và hàng hóa an toàn và hiệu quả về mặt chi phí là rất quan trọng đối với nền kinh tế của chúng ta, việc cắt giảm trọng lượng của ô tô, máy bay, tàu thuyền và tàu hỏa có thể cắt giảm đáng kể mức tiêu thụ nhiên liệu. Do đó, độ nhẹ của nhựa khiến chúng trở nên vô giá đối với ngành vận tải.

Vật liệu xây dựng

Nhựa xây dựng được sử dụng ngày càng nhiều trong các ứng dụng trong ngành xây dựng.